VNCũng như chó, bệnh da mẫn cảm ở mèo được chia thành ba loại chính. Quá mẫn cảm do bọ chét (và các loại côn trùng cắn) viêm da quá mẫn do thức ăn gây ra (phản ứng có hại của thức ăn ở da) là tương tự nhau giữa chó và mèo, nhưng viêm da dị ứng không do bọ chét hay thực phẩm là điểm khác biệt.

Mèo có biểu hiện dị ứng khác với chó. Họ có những kiểu viêm da và kích ứng khác biệt. Mèo là biểu hiện lâm sàng tiêu biểu của biểu hiện của bệnh viêm da, đặc biệt là biểu hiện rối loạn da liễu ở mèo (feline dermatological abnormalities). Thông thường, mèo bị dị ứng sẽ biểu hiện ít nhất một trong bốn kiểu phản ứng ở da phổ biến biểu hiện ngứa và viêm: ngứa đầu/cổ/mũi chân với các vết trầy xước, rụng lông không rõ thời điểm, viêm da hạt kê (Feline Miliary Dermatitis) hoặc/và tổn thương bạch cầu ái toan (bao gồm các mảng bạch cầu ái toan, u hạt bạch cầu ái toan và loét không rõ ràng). Tuy nhiên, những biểu hiện nêu trên chỉ là kiểu mẫu, không đại diện cho một quy chuẩn nào. Mặc dù các kiểu phản ứng ở da ở mèo thường là biểu hiện của bệnh dị ứng da tiềm ẩn, nhưng cần phải xem xét các điểm khác biệt khác trước khi đưa ra chẩn đoán dị ứng. Điều này thường bao gồm các nguyên nhân ký sinh và nhiễm trùng; dựa trên bệnh sử, các dấu hiệu lâm sàng khác hiện có và các chẩn đoán da liễu cốt lõi, các phân biệt khác bao gồm tình trạng di truyền và khối u cũng có thể cần được xem xét. Tuy nhiên, sau khi chẩn đoán dị ứng được thực hiện, kiểu phản ứng cụ thể được ghi nhận có thể giúp bác sĩ lâm sàng xác định (các) biểu hiện dị ứng nào cần được ưu tiên xem xét.
Viêm da dị ứng do bọ chét (Flea allergy dermatitis – FAD) trong được coi là tình trạng dị ứng được chẩn đoán thường xuyên nhất ở mèo. Bệnh biểu hiện phổ biến hơn ở các vùng lưu hành bọ chét. Bằng chứng về việc tiếp xúc với bọ chét bao gồm các đám bụi đen trong lông hoặc sự tồn tại của bọ chét ở lông mèo. Mặc dù chứng ngứa vùng lưng cùng với viêm da kê được ghi nhận phổ biến nhất với tình trạng quá mẫn do bọ chét cắn, nhưng các kiểu phản ứng khác cũng có thể được quan sát thấy, dẫn đến khó phân biệt giữa viêm da dị ứng do bọ chét và các bệnh quá mẫn khác ở bệnh nhân mèo. Các tổn thương da khác có thể được ghi nhận bao gồm các mảng hoặc vết loét tăng bạch cầu ái toan, rụng lông không rõ nguyên nhân hoặc ngứa toàn thân. Một nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân của chứng loét môi ở mèo (indolent lip ulceration) là do yếu tố mắc chứng viêm da dị ứng bọ chét FAD gây ra và ngược lại. Thực tế là có thể quan sát thấy một số kiểu phản ứng ở da này làm nổi bật tầm quan trọng của việc loại trừ các nguyên nhân tiềm ẩn khác gây ngứa như FAD trước khi đưa ra chẩn đoán lâm sàng về bệnh Viêm da quá mẫn không do bọ chét, không do thực phẩm (non-flea, non-food hypersensitivity dermatitis – NFNFHD) ở mèo.
Giống như ở chó, quá mẫn cảm với bọ chét cắn phản ánh phản ứng quá mẫn loại tức thời và/hoặc thể ẩn ở mèo. Các xét nghiệm trong da và xét nghiệm huyết thanh IgE đặc hiệu với chất gây dị ứng thường dương tính ở mèo mắc FAD; tuy nhiên, cần lưu ý rằng theo một nghiên cứu, khoảng 36% số mèo không có bất thường về da liễu dương tính với chiết xuất bọ chét khi xét nghiệm dị ứng. Điều này khẳng định thực tế rằng KHÔNG phải 100% mèo sẽ có nguy cơ dị ứng với bọ chét. Mặc dù nước bọt của bọ chét được tạo thành từ nhiều thành phần, nhưng có vẻ như một số protein nhất định dễ gây dị ứng hơn những loại khác.
Một quy trình vắc-xin đã được nhân bản, phát triển và tiêm cho mèo thí nghiệm mắc FAD được tạo ra bằng thực nghiệm bằng cách sử dụng protein nước bọt có tên là kháng nguyên nước bọt bọ chét 1 (flea salivary antigen 1 – FSA1) và vắc-xin DNA. Việc tiêm vắc-xin giúp cải thiện các dấu hiệu lâm sàng ở những con mèo bị dị ứng này; phát hiện này có thể giúp mở đường cho các can thiệp trị liệu miễn dịch có mục tiêu hơn ở bệnh nhân lâm sàng trong tương lai.
Tuy nhiên, phương pháp điều trị chính đối với mèo bị mẫn cảm với bọ chét cắn dựa vào việc phòng ngừa bọ chét trưởng thành một cách nhất quán và tích cực, cùng với các loại thuốc chống ngứa bổ sung trong thời gian bùng phát bệnh. Nhiều sản phẩm khác nhau có sẵn dành cho bệnh nhân mèo bao gồm vòng cổ phóng thích liên tục, thuốc bôi isoxazoline tác dụng kéo dài và các loại thuốc chống ký sinh trùng tại chỗ và đường uống khác. Đặc biệt với xu hướng khí hậu thay đổi, việc phòng ngừa bọ chét quanh năm được nhiều bác sĩ da liễu thú y khuyên dùng để ngăn ngừa các chẩn đoán nhầm lẫn. Để giúp giảm thiểu hơn nữa khả năng tiếp xúc với mèo mắc FAD, tất cả các động vật tiếp xúc (ví dụ: các vật nuôi khác trong gia đình) cũng phải được phòng ngừa bọ chét trưởng thành nhất quán. Ngoài ra, khi có mối lo ngại tiềm ẩn về sự phá hoại của bọ chét, việc xử lý môi trường cho cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành của ký sinh trùng cần được sử dụng.
Một tình trạng quá mẫn có liên quan chặt chẽ ở mèo là quá mẫn cảm với muỗi đốt. Cũng là một phản ứng quá mẫn ngay lập tức, quá mẫn cảm với muỗi đốt có chung một số đặc điểm với FAD. Tổn thương phổ biến nhất được báo cáo là viêm da miliary; bạch cầu ái toan khá dễ dàng thấy được trên các tổn thương của mèo bị ảnh hưởng. Ngứa vùng đầu, cổ và vành chóp tai thường được báo cáo vì các tổn thương thường tập trung dọc theo bề mặt lồi của tai cũng như dọc theo sống mũi. Phần đệm chân cũng có thể có biểu hiện bệnh. Mặc dù ít được nhìn thấy hơn, các tổn thương bạch cầu ái toan khác như u hạt và các mảng đã được chứng minh ở những con mèo bị ảnh hưởng. Bệnh này được báo cáo phổ biến hơn ở những trường hợp mèo hay hoạt động ngoài trời ở các khu vực địa lý nơi muỗi là loài đặc hữu.
Phương hướng quản lý chứng dị ứng này là không cho mèo tiếp xúc hoặc ở trong môi trường có muỗi. Lý tưởng nhất là mèo bị ảnh hưởng nên được giữ trong nhà để giảm tiếp xúc với muỗi. Điều quan trọng cần lưu ý là nhiều loại thuốc chống côn trùng được thiết kế cho con người nhưng không an toàn khi sử dụng cho mèo (ví dụ: những sản phẩm có chứa DEET). Cũng nên tránh các sản phẩm có chứa Permethrin do độc tính được thấy ở loài mèo. Pyrethroid tổng hợp mới hơn, flumethrin, đã được chứng minh là an toàn ở mèo và có thể có lợi trong việc kiểm soát những bệnh nhân quá mẫn cảm với muỗi đốt. Mặc dù chưa được đánh giá, isoxazolines có thể còn có tác dụng xua đuổi do phạm vi hoạt động diệt côn trùng rộng của chúng. Giống như FAD, việc điều trị chống ngứa có thể được chỉ định định kỳ khi bệnh bùng phát. Tương tự như việc quản lý FAD, việc kiểm soát môi trường đối với muỗi có thể hữu ích. Nếu có thể, nên loại bỏ nước đọng để giảm nơi sinh sản của muỗi.
Nguồn: Diesel, A. (2017). Cutaneous hypersensitivity dermatoses in the feline patient: A review of allergic skin disease in cats. Veterinary Sciences, 4(4), 25. https://doi.org/10.3390/vetsci4020025
P2: Viêm da quá mẫn do thực phẩm (Phản ứng có hại của thực phẩm ở da; Dị ứng thực phẩm) – Food Induced Hypersensitivity Dermatitis
P3: (Viêm da quá mẫn không do bọ chét, không do thực phẩm – Non-Flea, Non-Food Hypersensitivity Dermatitis) – Updating