VNCác ấu trùng giun chỉ Dirofilaria immitis và Dirofilaria repens hiện được phân biệt bởi đặc điểm hình thái và kích thước thông qua phương pháp nhuộm Knott (Knott test) (Tarello, 2003; Ciocan và cộng sự, 2010), nhuộm axit phosphatase (Peribanez và cộng sự, 2001; Lee và cộng sự, 2004; Ananda và cộng sự, 2006), và bằng cách nhận dạng DNA bằng cách sử dụng phương pháp PCR và kĩ thuật RFLP hay giải trình tự (Rishniw và cộng sự, 2006; Latrofa và cộng sự, 2012).
Một nhóm nghiên cứu ở Khoa Vi sinh & Miễn dịch học, Trường đại học Thú y thuộc Đại học Cornell, Mỹ đã thực hiện thí nghiệm so sánh hình thái giữa 2 loài ấu trùng trên bằng phương pháp quan sát mẫu ấu trùng được nhuộm Giem-sa dưới kính hiển vi. Ấu trùng giun tim D. immitis được lấy từ máu của 5 con chó nhiễm bệnh tự nhiên, và từ các mẫu được gửi để nhận dạng mức độ phân tử tại Đại học Cornell. Ấu trùng của D. repens được cung cấp dưới dạng tiêu bản máu từ 9 con chó bị nhiễm bệnh tự nhiên.
![]() |
![]() |
Dirofilaria immitis
Nguồn: Western College of Veterinary Medicine, University of Saskatchewan

Vi ấu trùng của Dirofilaria repens xuất hiện trên mẫu chó bị nhiễm bệnh
Nguồn: Ricardo Marcos et al, 2016
Các chỉ số hình thái ấu trùng được đo bao gồm: tổng chiều dài, chiều dài của khoang đầu, chiều dài dây thần kinh vòng, khoảng cách từ đầu trước tới hạt nhân cuối cùng của cơ thể và chiều dài của phần cuống đuôi.

Hình. Đầu trước của giun của Dirofilaria immitis (A–I) và Dirofilaria repens (J–Q), nhuộm Giemsa. Mỗi đầu trước đại diện cho một trong số nhiều loại giun chỉ được kiểm tra từ mỗi con trong số 18 con chó bị nhiễm bệnh. Tất cả các hình ảnh đều ở cùng một tỷ lệ. Thanh đo = 10 μm.
Nguồn: Janice L. Liotta (2013)
Trong các mẫu vi ấu trùng được đo từ các nguồn mẫu là các cá thể chó khác nhau, có sự khác biệt đáng kể, ngoại trừ duy nhất là chiều dài của đuôi không có nhân.
So sánh các giá trị trung bình thu được từ mỗi bộ ấu trùng giun chỉ từ mỗi con chó, ấu trùng giun chỉ của D. immitis nhỏ hơn đáng kể ở tất cả các kích thước (P < 0,001) so với ấu trùng D. repens, với một ngoại lệ duy nhất là khoảng cách từ đầu trước đến nhân đầu tiên ở rìa sau của khoang đầu.
Ở D. repens, một cụm gồm 2 nhân hoặc hiếm khi có 3 nhân trong phạm vi khoảng 3 μm của đầu trước được tách ra khỏi cột nhân chính trong cơ thể của mỗi ấu trùng giun chỉ, trong khi ở D. immitis, khoang đầu không có những nhân này, cho đến điểm bắt đầu của cột nhân của cơ thể.
Việc kiểm tra khoang đầu của ấu trùng D. repens và D.immitis trên các mẫu máu nhuộm của chó bị nhiễm bệnh cung cấp đặc điểm hình thái quan trọng để phân biệt ấu trùng giun chỉ của 2 loài này. Các ấu trùng giun chỉ của D. repens chứa một cụm nhân dễ nhận dạng gồm 2 nhân, hay đôi khi có 3 nhân, tách ra khỏi đầu trước của cột nhân, dẫn đến khoang đầu nhỏ hơn so với ở D. immitis khi không có các nhân riêng biệt này ở gần đầu trước.
Các ấu trùng giun chỉ của D. repens, như đã được mô tả trước đây khi sử dụng phương pháp Knott’s cải tiến (Tarello, 2003; Ciocan và cộng sự, 2010), có thời gian tồn tại dài hơn đáng kể trên tiêu bản so với các ấu trùng giun chỉ của D. immitis. Mặc dù không được trình bày ở đây, việc nhuộm thêm giun chỉ bằng hematoxylin hoặc bằng Diff-Quick (Poly-sciences, Inc., Warrington, Pennsylvania) cũng cho phép nhận biết cụm hạt nhân phía trước ở ấu trùng D. repens. Vì vậy, các bác sĩ lâm sàng, nhà ký sinh trùng học có thể dễ dàng phân biệt 2 loài này bằng nhiều loại kỹ thuật nhuộm màu khác nhau.
Nguồn:
Liotta, J. L., Sandhu, G. K., Rishniw, M., & Bowman, D. D. (2013). Differentiation of the Microfilariae ofDirofilaria immitisandDirofilaria repensin Stained Blood Films. the Journal of Parasitology/the Journal of Parasitology, 99(3), 421–425. https://doi.org/10.1645/12-10.1
Genchi, C., Genchi, M., Petry, G., Kruedewagen, E., & Schaper, R. (2013). Evaluation of the Efficacy of Imidacloprid 10 % / Moxidectin 2.5 % (Advocate®, Advantage® Multi, Bayer) for the Prevention of Dirofilaria repens Infection in Dogs. Parasitology Research, 112(S1), 81–89. https://doi.org/10.1007/s00436-013-3283-9